Chiều ngày 05/07/2025, Nhóm NCM Bệnh Thủy sản – Khoa Thủy sản phối hợp cùng các chuyên gia khách mời tổ chức buổi seminar khoa học về ứng dụng một số hợp chất tổng hợp trong nuôi trồng thủy sản. Buổi seminar do PGS.TS. Trương Đình Hoài là chủ tọa với sự tham gia của các cán bộ, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên trong Khoa Thủy sản. Buổi chia sẻ có hai bài tham luận:
- “Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng và mức bổ sung NaHCO3 đến hàm lượng fucoxanthin trong tảo silic nước ngọt Nitzschia palea”, ThS. Phạm Thị Lam Hồng;
- “Ứng dụng nhũ hoá chất béo trong NTTS”, TS. Nguyễn Ngọc Tuấn.


Fucoxanthin thuộc nhóm xanthophyll là sắc tố đặc trưng của tảo silic (diatoms) đóng vai trò trong quá trình quang hợp của tảo. Fucoxanthin được biết đến là hợp chất có hoạt tính sinh học cao như khả năng kháng viêm, Kháng ung thư, chống béo phì, bảo vệ tim mạch, được ứng dụng trong y dược. Hiện nay, việc khai thác nguồn fucoxanthin từ tảo silic ngày càng được quan tâm. Tảo silic nước ngọt Nitzschia palea giàu fucoxanthin được coi là nguồn nguyên liệu tiềm năng để khai thác fucoxanthin. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xác định các yếu tố làm tăng hàm lượng fucoxanthin của tảo N. palea. Hai yếu tố được nghiên cứu để tối ưu lượng fucoxanthin bao gồm cường độ ánh sáng và hàm lượng NaHCO3 trong môi trường nuôi cấy tảo. Thí nghiệm về cường độ ánh sáng bao gồm 3 mức: mức thấp (750Lx), mức trung bình (1.500Lx) và mức cao (3.000Lx). Mỗi mức cường độ ánh sáng có 3 lần lặp. Thí nghiệm bổ sung hàm lượng NaHCO3 vào môi trường nuôi sinh khối tảo bao gồm 5 mức: C0 (0 NaHCO3 g/l) ; C1 (0,4 NaHCO3 g/l); C2 (0,8 NaHCO3 g/l); C3 (1,2 NaHCO3 g/l). Mỗi mức hàm lượng NaHCO3 có 3 lần lặp. Tảo trong thí nghiệm được nuôi trong điều kiện chiếu sáng liên tục, nhiệt độ 28oC. Thu mẫu hàng ngày để xác định mật độ và hàm lượng fucoxanthin. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở cường độ ánh sáng 750 lx cho kết quả tối ưu, mật độ tế bào đạt cực đại muộn hơn và hàm lượng fucoxanthin cao nhất là 1 759 µg /L (ngày 6). Ở 1.500 lx, mật độ và fucoxanthin đạt cực đại sớm hơn nhưng thấp hơn. Ở 3.000 lx, mật độ và fucoxanthin đều thấp, biểu hiện dấu hiệu ức chế quang hợp. Bổ sung NaHCO₃ với hàm lượng 0,4 NaHCO₃g/L cho mật độ tế bào cao nhất (ngày 5). Tuy nhiên, hàm lượng fucoxanthin chỉ đạt cực đại là 853,7µg/L ( vào ngày thứ 4) rồi giảm nhanh. Ở mức bổ sung 0,8–1,2 g NaHCO₃/L, mật độ và hàm lượng fucoxanthin không cải thiện, thậm chí có xu hướng suy giảm.
Chất nhũ hoá lysolecithin tinh khiết có hoạt tính sinh học cao, thể hiện vai trò quan trọng trong tối ưu hóa hiệu suất nuôi trồng thủy sản thông qua việc tăng cường tiêu hóa và hấp thu lipid. Trong hệ tiêu hóa thủy sản, bước nhũ hóa chất béo là yếu tố quyết định khả năng khai thác năng lượng chuyển hóa (ME) từ nguồn dầu bổ sung. Với giá trị HLB 7–10, rất phù hợp để lysolecithin tạo nhũ tương dầu–trong–nước, vượt trội so với lecithin thông thường (HLB 2–5). Bên cạnh đó, chất nhũ hoá duy trì độ ổn định nhũ tương hàng giờ, trong khi chất nhũ hóa tổng hợp chỉ đạt mức vài phút, giúp lipase tiếp cận phân tử lipid hiệu quả hơn, từ đó gia tăng tốc độ thủy phân và hấp thu chất béo. Lysolecithin, đặc biệt là LPC, còn cải thiện mạnh khả năng hình thành micelle – bước thiết yếu trong hấp thu acid béo và cholesterol – với hiệu quả cao hơn lecithin 20–200 lần. Ngoài ra, LPC làm tăng tính thấm màng ruột, tăng vận chuyển chủ động và thụ động các dưỡng chất qua tế bào hấp thu, đồng thời kích thích tổng hợp chylomicron, nâng cao hiệu quả vận chuyển lipid toàn thân. Hoạt tính đa chức năng này giúp tăng hấp thu năng lượng, cải thiện sức khỏe gan và giảm các chỉ số sinh hóa liên quan đến tổn thương gan (AST, ALT, LDL). Các kết quả thử nghiệm trên nhiều loài thủy sản cho thấy hiệu quả rõ rệt: cá rô phi tại Ai Cập cải thiện 33% tăng trưởng và giảm 21.5% FCR ở liều 0.3 kg/T; cá điêu hồng tại Việt Nam đạt sản lượng tương đương với lượng thức ăn thấp hơn; cá hồi vân tại Iran cho hiệu suất tối ưu ở mức 1 kg/T; cá bơn tại Trung Quốc cải thiện sức khỏe ruột và vi sinh đường ruột; cá tráp biển tại Hy Lạp tăng 8% sinh khối và giảm 18% chỉ số mỡ nội tạng; trong khi ở tôm, lysolecithin cho phép giảm phụ thuộc protein và dầu biển, đồng thời nâng cao các chỉ tiêu kỹ thuật. Tổng hợp lại, chất nhũ hóa tự nhiên có hoạt tính sinh học mạnh, không chỉ cải thiện tiêu hóa – hấp thu lipid mà còn nâng cao hiệu quả tăng trưởng, sức khỏe gan, chất lượng thức ăn và hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản hiện đại.
Một số hình ảnh hoạt động


Nhóm NCM Bệnh Thủy sản


English